Trải qua nhiều giai đoạn phát triển, hôn nhân gia đình đã ngày càng tiến bộ hơn. Hiện nay, chế độ hôn nhân một vợ một chồng được pháp luật ghi nhận và bảo vệ, kèm theo các biện pháp đảm bảo nguyên tắc này được thực thi trong thực tế. Điều này không chỉ giúp duy trì sự ổn định trong các mối quan hệ gia đình mà còn góp phần thúc đẩy sự bình đẳng giới và quyền lợi của các thành viên trong gia đình.

Vậy, pháp luật hiện hành quy định như thế nào chế độ một vợ một chồng theo Luật hôn nhân và gia đình?

Trong bài viết này, Công ty Luật Hồng Giang chi nhánh Đà Nẵng sẽ giúp bạn tìm hiểu chi tiết về vấn đề này. Xin mời các bạn tham khảo!

 

1. Một số khái niệm liên quan

1.1. Hôn nhân là gì?

Căn cứ theo Khoản 1 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

“1. Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn.”

1.2. Gia đình là gì?

Căn cứ theo Khoản 2 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

“2. Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của Luật này.”

2. Nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình

Căn cứ theo Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình hiện nay được quy định cụ thể như sau:

Thứ nhất, nguyên tắc hôn nhân tự nguyện và tiến bộ: mọi cá nhân có quyền kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình mà không một cơ quan, tổ chức, xã hội, cá nhân nào được phép cản trở.

Thứ hai, nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng: được xây dựng dựa trên nền tảng hôn nhân tự nguyện, tiến bộ và nam nữ bình đẳng nhằm xóa bỏ chế độ hôn nhân phong kiến (quyền đa thê).

Nội dung của nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng quy định chỉ những người chưa có vợ, chưa có chồng hoặc tuy đã có vợ, có chồng nhưng hôn nhân đó đã chấm dứt mới có quyền kết hôn. Việc kết hôn của họ phải với người đang không có vợ, không có chồng (tại thời điểm đăng ký kết hôn thì các bên kết hôn phải trong tình trạng độc thân).

Để bảo vệ chế độ hôn nhân một vợ, một chồng tại Điểm c Khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định như sau:

“Điều 5. Bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình

  1. Cấm các hành vi sau đây:

       c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ

Theo đó, để bảo vệ chế độ hôn nhân một vợ một chồng, đảm bảo sự phát triển bền vững của gia đình pháp luật quy định cấm người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác; hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ.

Thứ banguyên tắc vợ chồng bình đẳng: vợ, chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình (theo Điều 19 Luật hôn nhân gia đinh 2014) và có quyền, nghĩa vụ tạo điều kiện, giúp đỡ nhau chọn nghề nghiệp; học tập, nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ; tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội (theo Điều 23 Luật hôn nhân gia đinh 2014)

Thứ tư, nguyên tắc tự do về quan hệ hôn nhân giữa các dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, người Việt Nam với người nước ngoài: được ghi nhận và bảo vệ trong các quy định của pháp luật nói chung và luật hôn nhân gia đình nói riêng. Để đảm bảo quyền kết hôn giữa các dân tộc, tôn giáo khác nhau và giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài tại Khoản 1 Điều 24 Hiến pháp năm 2013 cũng quy định:

“Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật.”

Thứ năm, nguyên tắc xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc: bởi gia đình có ấm no hạnh phúc thì hôn nhân mới bền vững, xã hội mới phát triển, thành viên trong gia đình có quyền và nghĩa vụ yêu thương chăm sóc lẫn nhau là điều tất yếu trong đời sống xã hội.

Thứ sáunguyên tắc trách nhiệm bảo vệ người già, phụ nữ và trẻ em: được xây dựng với mục đích xác định nghĩa vụ của những người làm cha, làm mẹ phải chăm sóc, nuôi dưỡng con cái, đảm bảo sự phát triển lành mạnh của con về mặt thể chất, trí tuệ và đạo đức, nâng cao tinh thần trách nhiệm của các bậc cha mẹ trong việc nuôi dạy con trở thành những công dân có ích cho xã hội, và đặc biệt không phân biệt đối xử giữa các con, con trai và con gái, con đẻ và con nuôi, con trong giá thú và con ngoài giá thú.

Thứ bảy, nguyên tắc kế thừa, phát huy truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc: giữ gìn truyền thống văn hóa và đạo đức tốt đẹp của dân tộc, đồng thời tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại trong thời kỳ hội nhập.

3. Các trường hợp vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng

Căn cứ theo Khoản 2 Điều 5 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về các trường hợp vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng, bao gồm:

Thứ nhất, người đang có vợ, có chồng hợp pháp được pháp luật công nhận mà kết hôn với người khác (người đã có chồng, có vợ hoặc chưa có chồng, có vợ). Hành vi này là hành vi kết hôn trái pháp luật và hành vi này bị cấm theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Thứ hai, người đang có vợ, có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác (người đã có chồng hoặc có vợ hoặc chưa có chồng, có vợ). Theo đó, tại Khoản 7 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình 2014 cũng quy định rõ: “Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng.”

4. Tội ngoại tình bị xử phạt như thế nào?

Theo khoản 1 Điều 59 Nghị định 82/2020/NĐ-CP, những hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng có thể bị xử phạt hành chính từ 3.000.000 – 5.000.000 đồng. Cụ thể gồm:

  • Người đã có vợ/chồng mà vẫn kết hôn hoặc sống chung như vợ chồng với người khác.
  • Người chưa có vợ/chồng mà kết hôn hoặc sống chung như vợ chồng với người mà bản thân biết rõ đã có gia đình (đang có mối quan hệ hôn nhân hợp pháp với người khác).

Như vậy, việc ngoại tình có thể bị xử phạt hành chính theo quy định trên

Ngoại tình có bị phạt tù không ?

5. Tội ngoại tình có bị đi tù không?

Theo Điều 182 Bộ luật Hình sự 2015, người đang có vợ hoặc chồng nhưng vẫn kết hôn hoặc chung sống với người khác như vợ chồng hoặc người chưa kết hôn nhưng biết rõ đối phương đã có gia đình mà vẫn cố tình duy trì quan hệ như vợ chồng có thể bị xử lý hình sự về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng. Cụ thể:

– Mức xử phạt nhẹ: Phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 1 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng – 1 năm

Áp dụng trong các trường hợp:

  • Hành vi ngoại tình dẫn đến việc ly hôn của một hoặc cả hai bên.
  • Người vi phạm đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi này nhưng còn vi phạm.

– Mức phạt nặng: Phạt tù từ 6 tháng – 3 năm

Đối với các trường hợp:

  • Hành vi ngoại tình khiến chồng, vợ hoặc con của một trong hai bên tự sát.
  • Vẫn tiếp tục quan hệ trái pháp luật sau khi đã có quyết định của Tòa án về việc:
    • Buộc chấm dứt sống chung như vợ chồng trái với chế độ 1 vợ, 1 chồng.
    • Hủy kết hôn.

Như vậy, người có hành vi ngoại tình không chỉ bị phạt hành chính, mà còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật nếu có đầy đủ yếu tố cấu thành tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng và gây hậu quả nghiêm trọng.

Trên đây là nội dung bài viết của Công ty Luật Hồng Giang chi nhánh Đà Nẵng về nguyên tắc một vợ một chồng và xử lý ngoai tình theo quy định của pháp luật.

Nếu Quý khách hàng có bất kỳ khó khăn hay vướng mắc gì trong quá trình tham khảo và áp dụng quy định trên, hãy liên hệ với chúng tôi theo Hotline 0961.87.8282 – 0902.17.6768 để được tư vấn và hỗ trợ sớm nhất.

4.6/5 - (23 bình chọn)

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *